ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ TỈNH KIÊN GIANG
|

|
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Kiên Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía tây Nam của Việt Nam, diện tích đất tự nhiên 6.346 km2. Dân số 1.705.539 người, mật độ dân số 268 người/ km2, nguồn lao động dồi dào 1.121.000 người.
Kiên Giang là một tỉnh có cả đồng bằng, rừng, núi, biển và hải đảo; điều kiện về tài nguyên, đất đai, khí hậu tạo cho Kiên Giang có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng chế biến thủy hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng và đầu tư phát triển du lịch với nhiều loại hình du lịch phong phú, đa dạng.
|
Kiên Giang ở trong vùng vịnh Thái Lan, gần các nước Đồng Nam Á (ASEAN) như: Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philipine; có địa hình đa dạng, bờ biển dài, có nhiều sông núi và hải đảo, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, là cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài.
II. TIỀM NĂNG KINH TẾ:
1. Cơ sở hạ tầng:
Kiên Giang cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km, cách thành phố Cần Thơ 115 km, có các tuyến thủy và đường bộ Quốc lộ 80, QL 61, QL 63, đường Hà Giang) nối liền với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tuyến đường Xuyên Á từ Cămpuchia sẽ đi qua tỉnh Kiên Giang; hiện nay có sân bay Rạch Giá và sân bay Phú Quốc; sắp tới sẽ xây dựng sân bay quốc tế Phú Quốc để mở đường bay tới các nước trong khu vực và quốc tế. Sẽ xây dựng cảng An Thới (cảng biển quốc tế), cảng Vịnh Đầm, cảng Bãi Đất Đỏ ở huyện đảo Phú Quốc, cảng Bãi Nò ( Hà Tiên), cảng nước sâu Nam Du (Kiên Hải); nạo vét luồng và nâng cấp cảng Hòn Chông để đón tàu 20.000 tấn. Hệ thống thông tin liên lạc được tập trung đầu tư, cơ bản đáp ứng yêu cầu của khách du lịch và các nhà đầu tư. Cơ sở hạ tầng những năm gần đây phát triển khá, giao thông nội ô các thị trấn, thị xã được nâng cấp, các tuyến giao thông liên huyện, liên ấp, liên xã đã được lưu thông cả bằng đường bộ, đường thủy, những tuyến đường này đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Nông lâm thủy sản:
Là nhóm ngành sản xuất trọng điểm của tỉnh có tiềm năng khá lớn, diện tích đất để phát triển nông nghiệp khoảng 436.000 ha, trong đó diện đất cho trồng lúa là 353.000 ha, sản lượng lúa đạt trên 3 triệu tấn; đất màu và đất cây công nghiệp 83.000 ha. Kiên Giang có rừng nguyên sinh Phú Quốc và U Minh Thượng với nhiều loại động thực vật quy hiếm. Ngành thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, đã được đầu tư phát triển khá toàn diện cả khai thác và nuôi trồng với tổng sản lượng trên 450.000 tấn/năm. Khai thác thủy sản đã được đầu tư theo hướng đánh bắt xa bờ, ngư trường khai thác hải sản của tỉnh trên 63.000km2, sản lượng khai thác là 350.000 tấn. Diện tích qui hoạch vùng nuôi tôm là 130.000 ha, đến năm 2007 đã đầu tư 76.000 ha, sản lượng 28.000 tấn.
3. Công nghiệp:
Trữ lượng đá vôi của Kiên Giang khoảng 440 triệu tấn, đá xây dựng 135 triệu tấn, sét gạch gói và sét xi măng 228 triệu tấn thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng. Sản lượng xi măng đạt 4,4 triệu tấn vào năm 2007, bao bì đạt 45 triệu bao/năm, công suất đông lạnh thủy sản 70.000 tấn/năm, sản lượng khóm cô đặc và đóng hộp đạt 5.000 tấn, xay xát gạo công suất 2,2 triệu tấn/năm.
4. Dịch vụ - du lịch:
Do có vị trí tự nhiên thuận lợi, là tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn với các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử ở Phú Quốc, Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, U Minh Thượng, đủ điều kiện để phát triển du lịch, đặc biệt đảo Phú Quốc sẽ được tập trung đầu tư thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao của khu vực. Những năm qua lĩnh vực du lịch được quan tâm khai thác, nhiều khu du lịch đã được tổ chức quy hoạch, nhiều dự án du lịch được mở rộng và đầu tư mới, cơ sở hạ tầng như sân bay, bến cảng, phương tiện và hệ thống đường giao thông tới các khu du lịch trong tỉnh được đầu tư nâng cấp, tạo thuận lợi cho khách đếm tham quan. Lượng khách du lịch đến Kiên Giang ngày càng tăng từ 451 ngàn lượt khách năm 2005 lên 3.285 ngàn lượt khách vào năm 2007.
5. Tài chính-Ngân hàng:
Thu – chi ngân sách: Với mục tiêu đảm bảo tiềm lực tài chính đủ mạnh để chủ động thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh hiệu quả và bền vững, góp phần ổn định tiền tệ và giá cả thị trường. Thực hiện phân bổ ngân sách hợp lý, thúc đẩy thực hành tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước. Dự kiến tổng thu ngân sách giai đoạn 2006-2010 đạt 8.598 tỷ đồng, tăng 40% so giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ huy động bình quân vào NSNN khoảng 6-7% GDP. Chi ngân sách được căn cứ vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng lĩnh vực, từng ngành theo nguyên tắc chi đầu tư XDCB lớn hơn tốc độ tăng chi thường xuyên. Tốc độ tăng chi cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ nhanh hơn tốc độ tăng chi NSNN để đến năm 2010 chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đạt 30%, khoa học công nghệ đạt 2,1% tổng chi NSNN.
Hệ thống ngân hàng: Hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, giai đoạn 2005-2007 nguồn vốn huy động tăng trưởng bình quân 26%/năm, hoạt động tín dụng tăng trưởng bình quân 30,46%/năm. Đến đầu năm 2008, toàn tỉnh đã có 43 tổ chức TCTD, trong đó có 19 ngân hàng và QTD TW, 23 QTD cơ sở, với 135 cơ sở hoạt động giao dịch rộng khắp các huyện, thị trong tỉnh đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân trên địa bàn tỉnh, có 2 ngân hàng thực hiện đăng ký giao dịch chứng khoán, hệ thống công tác thanh toán bù trừ, chuyển tiền điện tử đưa vào triển khai đáp ứng tốt nhu cầu của các doanh nghiệp và cá nhân. Các hệ thống ngân hàng hoạt động vững chắc và hiệu quả góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
III. ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO TỈNH KIÊN GIANG
Với tiềm năng thế mạnh về phát triển du lịch dịch vụ, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm thủy sản, phát triển toàn diện về nông lâm thủy sản. Kiên Giang đã và đang tập trung đầu tư để khai thác các thế mạnh này.
Thứ nhất, tập trung đầu tư phát triển lĩnh vực dịch vụ, du lịch, đưa ngành này trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế khác, như thương mại, dịch vụ, thủ công, mỹ nghệ… phát triển.
Để tạo bước chuyển đổi mạnh cho ngành du lịch trong những năm sắp tới, tỉnh đang tập trung triển khai tốt các quy hoạch và quy hoạch lại tất cả các khu du lịch trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là đối với đảo Phú Quốc. Đồng thời, tăng cường giới thiệu tiềm năng về du lịch, giới thiệu các chính sách ưu đãi để kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển lĩnh vực này. Đầu tư phát triển mạnh hơn về hệ thống giao thông đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không và đường giao thông nông thôn, với các phương tiện vận tải chất lượng cao. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đường vào các khu du lịch và dịch vụ giải trí, phát triển du lịch kết hợp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và địa phương, gắn với bảo vệ tài nguyên - môi trường…
Theo định hướng phát triển du lịch, Kiên Giang đang tập trung kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào Phú Quốc, để từng bước xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế theo Quyết định 178 của Thủ tướng Chính phủ về "Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020".
Thứ hai, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Dự kiến giai đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và thủy sản bình quân đạt 5 - 6%/năm, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính của tỉnh. Do vậy, tỉnh tập trung phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đạt hiệu quả cao và bền vững. Một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu là khuyến khích chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, xây dựng một số vùng chuyên canh cây lúa xuất khẩu chất lượng cao với diện tích là 100.000 ha, cây mía, cây khóm 10.000 ha, vùng nuôi tôm 130.000 ha nhằm cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Để đạt mục tiêu đó, tỉnh khuyến khích các thành phần kinh tế tập trung nguồn lực đầu tư cho phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là tôm công nghiệp và bán công nghiệp tại một số vùng trọng điểm như ở Kiên Lương, Hòn Đất.
Thứ ba, đối với ngành công nghiệp, tỉnh tiếp tục ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến nông thủy sản. Những ngành này có lợi thế về tài nguyên và nguồn nguyên liệu. Mặt khác, từng bước phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất và du lịch, phát triển các ngành công nghiệp sạch. Dự kiến tăng trưởng kinh tế của công nghiệp bình quân đạt 16 - 17%/năm. Tiếp tục đổi mới công nghệ các nhà máy sản xuất xi măng, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo môi trường. Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất gạch tuy-nen, nghiên cứu sản xuất và mở rộng các loại sản phẩm sau xi măng. Xây dựng các nhà máy chế biến thủy sản với công nghệ hiện đại ở Tắc Cậu và ở một số khu công nghiệp để đến năm 2010 đạt công suất chế biến 100.000 tấn/năm; xây dựng dây chuyền khóm đông lạnh 10.000 tấn/năm. Mở rộng các nhà máy bột cá, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng các nhà máy chế biến thức ăn cho tôm và phục vụ chăn nuôi. Nâng cao năng lực ngành công nghiệp cơ khí, đóng mới, sữa chữa tàu thuyền phục vụ khai thác thủy sản, vận tải, nông nghiệp… Đổi mới thiết bị công nghệ các cơ sở chế biến gạo để đạt công suất trên 2,2 triệu tấn vào năm 2010. Hình thành ngành công nghiệp sạch, như công nghiệp may, sản xuất điện tử, hàng tiêu dùng, hàng thủ công - mỹ nghệ...
Thứ tư, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp (KCN), khu đô thị và trung tâm thương mại: KCN Thạnh Lộc (huyện Châu Thành) quy mô 249 ha phục vụ cho phát triển công nghiệp, chế biến lương thực - thực phẩm, cơ khí…; khu cảng cá Tắc Cậu (Châu Thành) có diện tích 108 ha, phục vụ cho phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, đóng và sửa chữa tàu thuyền; KCN Thuận Yên (thị xã Hà Tiên), có quy mô 140 ha phục vụ cho chế biến thủy sản, cơ khí và sản xuất hàng tiêu dùng, KCN Kiên Lương ( huyện Kiên Lương) có quy mô 3.200 ha với các nhà máy đóng tàu, nhà máy nhiệt điện than 4.400MW, khu công nghệ cao, KCN Xẻo Rô (An Biên) quy mô 200ha với các ngành đóng tàu, công nghiệp chế biến nông thực phẩm, cơ khí… Ngoài ra, tỉnh còn chủ trương đầu tư thêm một số KCN khác, như ở Vĩnh Hòa Hưng Nam (huyện Gò Quao) và các cụm công nghiệp trên đảo Phú Quốc, huyện Vĩnh Thuận.
Tỉnh cũng đang đầu tư cơ sở hạ tầng khu đô thị lấn biển mở rộng Thành phố Rạch Giá với diện tích 420 ha và đến năm 2010 mở rộng thêm 300 ha; thị xã Hà Tiên mở rộng với diện tích 96 ha và Khu đô thị U Minh mở rộng với diện tích 320 ha. Ngoài ra, tỉnh sẽ đầu tư cơ sở hạ tầng một số khu dân cư, đường giao thông ở huyện Phú Quốc.
Để những định hướng phát triển được thuận lợi, tỉnh Kiên Giang mong nhận được sự quan tâm, hỗ trợ thiết thực từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, nhằm đưa Kiên Giang phát triển xứng đáng với tiềm năng.